Tổng hợp các mở bài và kết bài cực hay môn ngữ văn ôn thi THPT QG 10 đề đọc-hiểu môn Văn theo cấu trúc đề thi THPT QG 2018 Các mở bài hay về các tác phẩm văn học - Ngữ văn lớp 12 Những mở bài hay nhất về các tác phẩm Văn học lớp 12 Tổng hợp những mở bài và kết bài môn Văn dễ đạt điểm cao đem đến cho các bạn học sinh lớp 12 có thêm nhiều tư liệu . Mở bài chung cho tất cả các tác phẩm lớp 12 Qua đó nhanh chóng biết cách viết đoạn mở bài và kết bài hay, để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Hãy cùng tôi tham khảo 13 mở bài mẫu cho tầng tác phẩm văn học 12. Tổng Hợp 14 Mở Bài - Kết Bài Nâng Cao Ngữ Văn 12 bạn đã quá mệt mỏi khi liên tục phải đọc đi đọc lại để thuộc lòng các ý, các đầu dòng; đọc trước quên sau; khi bắt tay vào viết bài thì lan man, bố cục không rõ ràng, viết xong ý này lại quay lại viết ý trước. Học Văn Lớp 12. 6 hrs ·. 40 MỞ BÀI KẾT BÀI NÂNG CAO NGỮ VĂN 12. 🥰 Cô gửi tặng 2K5 chăm học nhé, chúc các em học tốt. +22. Tập làm văn: Mở bài trong bài văn kể chuyện. Phiếu bài tập tuần 11 Tuần 12: Có chí thì nên Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật. Tuần 33: Tình yêu cuộc sống. 12 ngõ 156 Nguyễn Đổng Chi, Phường Cầu Diễn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội Câu 1 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 2) - Kết bài 1: nội dung tổng hợp chun chung, chưa khái quát và khẳng định được hình tượng ông lái đò tài hoa, điệu nghệ. Phần này liên kết lỏng lẻo với thân bài. - Kết bài 2: Hoàn chỉnh, khái quát nhận định, có phần mở rộng và phát Về cơ bản, có hai cách để mở bài: mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Mở đầu hay trong bài văn nghị luận sẽ gây được ấn tượng cho người đọc. Mở bài trực tiếp là đi thẳng vào vấn đề nghị luận. Học sinh sau khi tìm hiểu đề và tìm được vấn đề trọng r7tQ. Soạn văn 12 bài Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận rất hay bao gồm các phần Hướng dẫn soạn bài; Kiến thức trọng tâm; Gợi ý luyện tập RÈN LUYỆN KĨ NĂNG MỞ BÀI, KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN I, HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI 1. Viết phần mở bài Câu 1 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 112 Chọn mở bài thứ 3 vì – Mở bài 1 Đầy đủ nhưng đưa quá nhiều thông tin về lai lịch của tác giả không cần thiết, tạo nên sự nhàm chán cho người đọc, khiến người đọc nghĩ đây là phần tiểu sử chứ không phải phân tích giá trị nghệ thuật tình huống truyện. – Mở bài 2 Thông tin phần đầu được đưa không chính xác, giới thiệu đề tài và định hướng nội dung làm bài. – Mở bài 3 Phần viết logic, hợp lí. Câu 2 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 113 Các mở bài đều có vai trò giới thiệu và làm nổi bật nội dung vấn đề cần nghị luận, cụ thể qua từng mở bài như sau – Mở bài 1 + Đề tài được triển khai trong văn bản là nội dung bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta 1945. + Tính tự nhiên, hấp dẫn khi trích hai bản tuyên ngôn Tuyên ngôn của Mĩ, Pháp với cơ sở tư tưởng và nguyên kí cho bản Tuyên ngôn độc lập Việt Nam. – Mở bài 2 + Đề tài văn bản là nội dung nghệ thuật của Tống biệt hành – Thâm Tâm. + Sử dụng phương pháp so sánh tương đồng để nêu đề tài, giới thiệu so sánh giữa Thâm Tâm và Tống biệt hành- Thôi Hiệu và Hoàng Hạc Lâu. – Mở bài 3 + Đề tài độc đáo, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao. + Tính tự nhiên và hấp dẫn nêu thành tựu trước Nam Cao, tạo đòn bẩy nổi bật tài năng của Nam Cao. Câu 3 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 114 Phần mở bài cần đáp ứng những yêu cầu như sau – Mở bài giới thiệu đối tượng, đề tài, vì vậy cần nêu ngắn gọn xuất xứ của đề tài, thông báo chính xác, ngắn gọn đề tài, hướng người đọc vào nội dung bàn luận một cách tự nhiên và gợi sự hứng thú với vấn đề được trình bày trong văn bản, cách hành văn tạo hứng thú cho người đọc. 2. Viết phần kết bài Câu 1 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 114 Chọn kết bài thứ 2 vì – Kết bài 1 Liên kết lỏng lẻo với thân bài, không tập chung toát lên nội dung khái quát và khẳng định được hình tượng ông lái đò tài hoa, điệu nghệ. – Kết bài 2 Hoàn chỉnh, khái quát nhận định, có phần mở rộng và phát triển đề tài. Tính liên kết chặt chẽ với thân bài. Câu 1 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 115 – KB 1 nêu khái quát, khẳng định vấn đề đã đề cập ở mở bài và thân bài đó là nước Việt có quyền hưởng tự do, độc lập, liên hệ, mở rộng khía cạnh quan trọng của vấn đề. – KB 2 Nêu nhận định tổng quát bằng đoạn văn trước kết, phần kết chỉ nhấn mạnh khẳng định bằng một câu ngắn gọn, sau đó mở rộng và nêu được nhận định khái quát. → Hai kết bài, đều dùng phương tiện thể hiện liên kết chặt chẽ giữa kết bài và các phần trước đó của văn bản, có dấu hiệu đánh dấu việc kết thúc trình bày vấn đề. Câu 3 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 115 Chọn C – Thông báo việc trình bày vấn đề đã hoàn thành, nêu đánh giá khái quát và gợi liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn. II, KIẾN THỨC CẦN NHỚ – Mở bài cần thông báo chính xác, ngắn gọn về đề tài hướng người đọc về đề tài một cách tự nhiên. – Kết bài cần thông báo kết thúc đề tài, nêu đánh giá khái quát của người viết về những khía cạnh nổi bật, liên tưởng mở rộng. III, HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Câu 1 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 116 Sự giống và khác nhau giữa hai mở bài * Giống Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận, đầy đủ ý. * Khác – MB 1 + Giới thiệu trực tiếp ngắn gọn vấn đề, khái quát về tác phẩm, nội dung cần nghị luận => nhấn mạnh phạm vi vấn đề. – MB 2 + Gợi mở vấn đề liên quan nội dung chính qua luận cứ, luận chứng => giới thiệu tự nhiên, sinh động, tạo hứng thú cho sự tiếp nhận. Câu 2 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 116 – MB chưa đạt yêu cầu đưa thừa thông tin về tác giả. Đưa ra luận điểm bi kịch của Mị tỉ mỉ quá, luận điểm về vẻ đẹp phẩm chất của Mị chỉ giới thiệu được sức sống tiềm tàng. – KB Không đưa ra được nhận định, ý nghĩa vấn đề trùng lặp với mở bài. Lỗi lặp từ, lỗi liên kết Sửa lại MB Tô Hoài – một nhà văn của vùng đất Hà Nội. Ông chính là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như Dế Mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc,… Một trong số đó ta không thể không nhắc đến truyện ngắn Vợ chồng A Phủ nằm trong tập Truyện Tây Bắc được ông dày công viết. Truyện kể về số phận bi thương, bị tước đoạt quyền sống của những người dân vùng cao sống trong chế độ nửa thực dân nửa phong kiến với những hủ tục lạc hậu. Nổi bật trong truyện là hình ảnh nhân vật Mị, một người phụ nũ có sức sống tiềm tàng, dù sống trong lầm lũi nhưng ở Mị ta thấy được khát vọng sống, một vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân vùng cao. KB Mị – đại diện điển hình cho những người phụ nữ vùng cao nói riêng và những người nông dân nói chung. Dù phải sống cuộc sống không khác gì những con vật nhưng ta vẫn thấy ngọn lửa, niềm tin, niềm khao khát hạnh phúc trong con người Mỹ. Quyết định chạy trốn theo lá cò Đảng là hành động dũng cảm và đúng đắn hơn bao giờ hết. Câu 3 Sách giáo khoa Ngữ Văn, tập 2 – trang 116 – MB Xuân Quỳnh – nhà thơ nữ hiếm hoi trong thơ ca Việt Nam. Nhắc đến bà là người ta nhắc đến tình yêu và khát vọng hạnh phúc đời thường của người phụ nữ trẻ. Và “sóng” chính là một trong những minh chứng cho những tâm tư thầm kín, những trạng thái, sự biến chuyển tinh tế của tâm hồn người thiếu nữ khi. Bà đã mượn hình tượng sóng nhiều tầng nghĩa để diễn tả khát khao tình yêu hồn nhiên, mãnh liệt và luôn sôi nổi của người phụ nữ. Sóng và em nhu hòa làm một đánh những đợt sóng đầy yêu thương và dạt dào cảm xúc. – KB Sóng hiện lên bàng tất cả những tình cảm thầm kín của người con gái khi yêu. Từ những thắc mắc để lí giải tình yêu đến nỗi khát khao niềm đam mê bất tận nỗi nhớ nhung cùng sự sôi nổi và suy tư lắng đọng rồi cả ước mơ, Xuân Quỳnh đã cho ta thấy một tình yêu thật mong manh và đẹp đẽ. Thơ tình Xuân Quỳnh mang lại khoảng bình yên cho tâm hồn người đọc, mang lại tình yêu cho đôi lứa đang yêu. VIỆT BẮC _Tố về sức sống của văn chương nghệ thuật, nhà thơ Bằng Việt từng viết “Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớNhư đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu”. Vâng! Có những tác phẩm ra đời để rồi chìm khuất giữa ồn ào náo nhiệt của phiên chợ văn chương, nhưng cũng có những tác phẩm lại như “những dòng sông đỏ nặng phù sa”, như “bản trường ca rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” để rồi in dấu ấn và chạm khắc trong tâm khảm ta những gì đẹp nhất để “suốt đời đi vẫn nhớ”. Đó phải chăng là những tác phẩm đã “vượt qua mọi băng hoại” của thời gian trở thành “bài ca đi cùng năm tháng” để lại trong tâm hồn bạn đọc bao thế hệ những dư vang không thể nào quên. Một trong số bài ca đó phải kể đến “Việt Bắc” của người nghệ sĩ đa tài Tố Hữu. Trong bài thơ có những vần thơ thật lắng đọng, đặc biệt là quát chung“Khi ta ở chỉ là nơi đất ởKhi ta đi đất đã hóa tâm hồn”Câu thơ của Chế Lan Viên là sự đúc kết một quy luật nhân sinh, một sự kì diệu của tâm hồn Sự gắn bó với mỗi miền đất sẽ trở thành chính ta, một phần đời ta, là hành trang tinh thần không thể thiếu. Phải chăng vì lí do này mà những vần thơ viết về quê hương đất nước luôn xuất phát từ những rung động thường trực? Và Việt Bắc – khúc hùng ca, khúc tình ca của cách mạng cũng được chắp bút từ sợi dây liên kết vô hình của Tố Hữu với mảnh đất này. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, vào tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để về lại thủ đô Hà Nội, nhưng trái tim người thi sĩ đa cảm vẫn lưu luyến nơi đây. Từ những xúc cảm bâng khuâng dạt dào đó, người sáng tác Việt Bắc. Đoạn trích trên nằm ở phần giữa của thi phẩm trong khúc tâm tình…..b . Phân tích chứng minh LĐ1 Nội dungLao động nghệ thuật là hình thức lao động của trái tim. Tư tưởng của một nhà văn dù có giá tr] đến đâu, độc đáo mới m^ đến nhường nào thì nó cũng chilà một xác buớm `p khô trên trang giấy. Thơ ca phai được khơi dậy trong lòng ta lớp lớp những đợt sóng cuộn trào và muôn vàn cung bậc tình cảm yêu thương, căm giận xót xa, nghẹn ngào, xao xuyến hay bâng khuâng. Do vậy, thi sĩ không thể làm nên thơ nếu cửa lòng đóng kh`p, nếu không “mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” Nam Cao. Bởi vậy, mà trong khúc tâm tình tha thiết, người ra đi đã mở rộng lòng mình tỏ bày với người ở lại lời của trái tim chân thành“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”

mở bài kết bài văn 12